Tiêu chuẩn chống nước của đồng hồ lặn

Đồng hồ của thợ lặn bình thường sẽ mang khả năng chống thấm khoảng 200 đến 300 m (660 tới 980 ft), dù rằng kỹ thuật hiện đại cho phép tạo ra đồng hồ lặn có thể đi sâu hơn phổ thông. Đồng hồ của thợ lặn đương đại thực sự phù hợp sở hữu ISO 6425 tiêu chuẩn, xác định những tiêu chuẩn và tính năng thử nghiệm cho đồng hồ thích hợp để lặn mang đồ vật thở dưới nước ở độ sâu 100 m (330 ft) trở lên. Đồng hồ phù hợp mang ISO 6425 được đánh dấu bằng chữ DIVER’S để phân biệt đồng hồ lặn thích hợp ISO 6425 sở hữu đồng hồ với thể không liên quan cho lặn biển thực tế.

Đồng hồ lặn, cũng thường được gọi là một thợ lặn của hoặc bổ nhào đồng hồ , là một mẫu đồng hồ được ngoài mặt cho lặn dưới nước mà những tính năng, tối thiểu, một khả năng chống thấm cao hơn một,0 MPa (10 atm), tương đương mang 100 m (330 ft) .

Ở một chừng độ lớn, đồng hồ của thợ lặn đã được thay thế bởi máy tính lặn tư nhân , cung ứng chức năng hứa hẹn giờ lặn tự động được phát động cộng sở hữu tính toán giải nén thời kì thực và các chức năng khác tùy chọn.

từ khi tháng 5 năm 2019, Omega SA giữ kỷ lục về mẫu đồng hồ lặn sâu nhất mang Omega Seamaster Planet Ocean Ultra Deep Professional [1] , đã đi cùng Victor Vescovo đến độ sâu 10.928 mét (gắn bên ngoài cái xe ngập nước sâu (DSV) của anh nguyên tố giới hạn) như là 1 phần của cuộc thám hiểm Five Deeps

Đồng hồ kỹ thuật số Casio DBC150-1 Databank

Lịch sử của các phấn đấu tiêu dùng đồng hồ dưới nước và để làm cho những dòng đồng hồ sở hữu khả năng không thấm nước, hoặc chống nước và để làm đồng hồ lặn trở lại có lẽ từ thế kỷ 17. Trong thế kỷ 19, đồng hồ chống thấm nước và bụi thường là những sản phẩm 1 lần được phân phối riêng cho một quý khách cụ thể và được bộc lộ là “Đồng hồ Explorer’s”. Thợ lặn mũ cứng giai đoạn đó đôi khi đặt các loại pocketwes thường ngày vào bên trong mũ bảo hiểm của họ để biết thời gian ở dưới nước. [3]Đầu thế kỷ 20, những cái đồng hồ tương tự được cung cấp công nghiệp để phân phối quân sự và thương nghiệp. Giống như người tiền nhiệm của họ, đồng hồ lặn đầu thế kỷ 20 đã được phát triển để đáp ứng nhu cầu của một số hàng ngũ khác nhau nhưng với liên quan: nhà thám hiểm, hải quân và thợ lặn giỏi.

Năm 1926, Rolex đã mua bằng sáng chế cho vỏ đồng hồ Oyster Oyster, sở hữu một con dấu kín. Vào ngày 7 tháng 10 năm 1927, 1 vận cổ vũ bơi lội người Anh, Mercedes Gleitze đã quyết tâm vượt qua Kênh tiếng Anh bằng một loại Rolex Oyster mới treo vòng vo cổ cô bằng một dải ruy băng trong lần bơi này. Sau hơn 10 giờ trong nước lã, cái đồng hồ vẫn được giữ kín và giữ thời kì thấp trong suốt.

Tham khảo thêm các bài viết liên quan tại:

Hướng dẫn sử dụng và Cách chỉnh giờ đồng hồ Casio STL-S100H

https://casiovietnam.net/outgear

Casiovietnam.net

Omega SA được ghi nhận là người tạo ra cái đồng hồ lặn được cung ứng công nghiệp trước hết trên toàn cầu dành cho sản xuất thương mại, Omega “Marine” hình chữ nhật sở hữu vỏ trượt đôi và sở hữu thể toá rời được cấp bằng sáng chế, được giới thiệu vào năm 1932. Sau một loạt thử nghiệm được thực hiện bởi Phòng thí điểm Thụy Sĩ cho Tử vi ở Neuchâtel vào tháng 5 năm 1937, loại đồng hồ được chứng thực là sở hữu thể chịu được áp suất một,37 MPa (13,5 atm), tương đương có độ sâu 135 m (443 ft), mà không cần uống nước. [5]
không những thế, 1 số lượng to đồng hồ lặn kiểu “căng tin” của Hamilton , Elgin hoặc Waltham đã được chế tạo theo đặc điểm công nghệ quân sự trong và sau Thế chiến II . [8] không những thế, các cái đồng hồ này được cung cấp với số lượng nhỏ và ko dành cho cung cấp thương nghiệp quy mô lớn. Hiện tại, sự quan tâm đến các dòng đồng hồ này được ngừng cho những nhà sưu tập. [9]Theo yêu cầu của Hải quân hoàng tộc Ý , vào tháng 9 năm 1935, về mẫu đồng hồ dưới nước phát sáng cho thợ lặn, Panerai đã phân phối đồng hồ dưới nước “Radiomir” vào năm 1936. Các mẫu đồng hồ này được Rolex cung ứng cho Panerai. [6] [7]

Năm 1953, đồng hồ chống thấm Fifty Fathoms của Lip- Blancpain xuất hiện trên thị phần Pháp. Các mô hình khác nhau đã được Blancpain phát hành với số lượng nhỏ cho quân đội ở 1 số quốc gia, bao gồm các đội thợ lặn đấu tranh của Hải quân Hoa Kỳ và Pháp . The Fifty Fathoms đã được Jacques Cousteau và các thợ lặn của ông mặc trong bộ phim dưới nước “Le monde du quiet”, đã giành giải Cành cọ vàng tại liên hoan phim Cannes năm 1956, và ở Mỹ lúc ngôi sao truyền hình Lloyd Bridges mặc loại Blancpain Fifty Đồng hồ lặn Fathoms trong một bức ảnh xuất hiện trên trang bìa của tin báo Skin Diver phiên bản tháng hai năm 1962 . [10]

các Rolex Submariner được giới thiệu tại Basel Xem Fair vào năm 1954 mà trùng hợp với sự lớn mạnh của bộ máy hô hấp dưới nước khép kín, được gọi là lặn . Năm 1959, tổ chức lặn thể nghiệm của Hải quân Hoa Kỳ đã Đánh giá năm chiếc đồng hồ lặn bao gồm Đồng hồ đeo tay chìm của Hải quân Hoa Kỳ Bulova, Enicar Sherpa Diver 600, Enicar Seapearl 600, Blancpain Fifty Fathoms và Rolex Oyster Perpetual. [11]

Năm 1961, Edox cho ra mắt dòng đồng hồ Delfin , với vỏ đôi được phân phối trước nhất trong ngành nghề cho khả năng chống nước tới 200 mét. Sau ấy, họ đã phát hành cái Hydrosub vào năm 1963 với hệ thống vương miện trước nhất sở hữu vòng căng cho phép độ sâu 500 mét.

Năm 1961, Rolex khởi đầu bao gồm 1 cuốn sổ tay skindiver sở hữu Submariner, sau đó có sẵn trong 2 mô phỏng, một mô hình chịu nước đến 200 m (660 ft), phiên bản còn lại, ít tốn kém hơn, tới 100 m (330 ft). Đó là sự tuyển lựa đồng hồ cho nhân vật 007 trong mười bộ phim James Bond trước hết , khiến cho “Sub” đạt được tình trạng biểu trưng. [12]

Năm 1965, Seiko đưa 62MAS ra thị phần, cái đồng hồ thợ lặn nhiều năm kinh nghiệm đầu tiên của Nhật Bản. [13]
Năm 1983, công ty lặn thí điểm của Hải quân Hoa Kỳ đã Tìm hiểu 1 số đồng hồ khoa học số được dùng bởi thợ lặn của Hải quân Hoa Kỳ. [20]Trong những năm 1960, công việc thương mại ở các đại dương và biển đã tạo ra những công ty lặn nhiều năm kinh nghiệm cần các dòng đồng hồ mạnh mẽ hơn được mẫu mã cho các hoạt động lặn ở độ sâu lớn hơn. Điều này dẫn đến sự tăng trưởng của các loại đồng hồ ‘siêu chống nước’ trước hết như Rolex Sea-Dweller 2000 (2000 ft = 610 m), xuất hiện vào năm 1967 và được cung cấp trong 1 số biến thể và Omega Seamaster Professional 600m / 2000 ft, còn được gọi là ” Omega PloProf ” ( Pletterur Professionnel), đã với sẵn vào năm 1970, và được sản xuất trong 1 số biến thể. [14] [15] [16] [17] [18] [19]

Năm 1996, đơn vị Tiêu chuẩn hóa Quốc tế (ISO) đã giới thiệu những tiêu chuẩn và tính năng cho đồng hồ lặn được quy định theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 6425 – Divers ‘ .

đa dạng đồng hồ thể thao tiên tiến nợ bề ngoài của họ cho đồng hồ lặn.

phần lớn các thợ lặn hiện tại sử dụng máy tính lặn điện tử , đeo cổ tay . [12] Máy tính lặn hoặc máy đo giải nén là vật dụng được tiêu dùng bởi thợ lặn để đo thời kì và độ sâu của chuyến lặn để có thể tính toán và hiển thị tham số an toàn để người lặn mang thể giảm thiểu được bệnh suy giảm . [21] tuy nhiên, đồng hồ lặn và máy đo độ sâu vẫn thường được các thợ lặn sử dụng làm mướn cụ dự phòng để giải quyết những sự cố máy tính lặn.

Leave a Reply